THÔNG ĐIỆP SPE SALVA CỦA ĐỨC THÁNH CHA

Niềm hy vọng Kitô Giáo có phải là một niềm hy vọng cá nhân?

13. Theo ḍng lịch sử, các Kitô hữu đă cố gắng diễn tả điều “biết là không biết” này qua phương tiện những h́nh ảnh thể hiện ra được, và họ đă phát triển h́nh ảnh về “Thiên Đàng” c̣n rất xa với điều mà, nói cho cùng, chỉ có thể biết đến một cách rất tiêu cực, v́ không biết. Tất cả những cố gắng diễn tả hy vọng này đă đem đến cho nhiều người, qua các thế kỷ, một linh hứng để sống theo đức tin và do đó từ bỏ hyparchonta – cơ sở vật chất cho cuộc sống của họ. Tác giả của Thư Do Thái, trong chương thứ Mười Một, đă tổng kết một h́nh thức lịch sử về những ai sống trong hy vọng, và về cuộc hành tŕnh của họ, một lịch sử kéo dài từ thời Abel cho tới thời của tác giả. H́nh thái hy vọng này đă là đối tượng cho một thứ chỉ trích ngày càng gay gắt trong thời buổi hiện nay: nó bị coi là một niềm hy vọng duy cá nhân, một cách thế chối bỏ thế giới với những đau khổ của nó và t́m nương náu nơi một h́nh thái giải thoát vĩnh cửu có tính cách riêng tư. Henri de Lubac, trong lời phi lộ của cuốn sách có thế giá Catholicisme. Aspects sociaux du dogme (Giáo lư Công Giáo – Những khía cạnh xă hội của tín lư) đă tổng hợp một số những phát biểu đặc trưng của quan điểm này, một trong số đó đáng để trích ra nơi đây: “Tôi đă t́m thấy niềm vui chăng? Không …chỉ là niềm vui của tôi, và đó là điều thật khác biệt.. Niềm vui của Chúa Giêsu có thể là riêng tư. Nó chỉ thuộc về một con người đơn độc và Ngài được giải thoát. Ngài được an b́nh.. bây giờ và măi măi, nhưng Ngài cô đơn. Tính chất cô lập của niềm vui này không làm Ngài khó chịu. Trái lại, v́ Ngài là người được chọn! Trong ơn phúc của Ngài, Ngài bước qua những băi chiến trường với một bông hồng trên tay”10

14. Chống lại quan điểm này, khi trưng ra hàng loạt những luận điểm thần học của các Giáo Phụ, de Lubac đă có thể chứng minh rằng ơn cứu độ luôn được xem là một thực tại “xă hội”. Thật vậy, Thư Do Thái đề cập đến một “thành phố” (x 11:10, 16; 12:22; 13:14) và do đó về ơn cứu độ tập thể. Nhất quán với quan điểm này, các Giáo Phụ luôn coi tội lỗi là sự huỷ hoại sự hiệp nhất của nhân loại, là sự đổ vỡ và chia rẽ. Tháp Babel, nơi các ngôn ngữ rối loạn, nơi của phân ly, được coi như một biểu tượng cho thấy tội lỗi về căn bản nghĩa là ǵ. Do đó, “ơn cứu chuộc” xuất hiện như sự phục hồi t́nh hiệp nhất, trong đó chúng ta lại cùng đến với nhau trong sự hiệp thông được bắt đầu h́nh thành nơi cộng đoàn các tín hữu. Chúng ta không cần quan tâm đến tất cả mọi văn bản trong đó nói lên tính chất xă hội của niềm hy vọng Kitô Giáo. Ở đây, chúng ta hăy chú tâm đến Thư gởi cho Proba trong đó Thánh Augustinô cố gắng minh họa ở một mức độ nào đó điều “biết là không biết” mà chúng ta đang t́m kiếm. Khởi điểm của ngài đơn giản là thành ngữ “cuộc sống đầy ơn phúc”. Sau đó, ngài trích dẫn Thánh Vịnh 144 [143]:15 “Hạnh phúc thay dân nào được Thiên Chúa là Chúa”. Và ngài tiếp tục: “Để có thể được kể trong hàng dân tộc này và đạt được …sự sống đời đời với Thiên Chúa, ‘Lệnh truyền đó tối hậu phải đưa tới đức mến phát xuất từ tâm hồn trong sạch, lương tâm ngay thẳng và đức tin không giả h́nh’ (1 Tm 1:5) 11. Sự sống thật mà chúng ta hằng vươn tới được liên kết với một sự hiệp thông sống động với một “dân tộc”, và với mỗi cá nhân, sự sống ấy chỉ có thể đạt được trong cái “chúng tôi” này. Điều này giả định rằng chúng ta phải thoát ra được tù ngục là “cái tôi” của ḿnh, v́ chỉ trong sự cởi mở của chủ thể vũ trụ này, chúng ta mới có thể hướng nh́n đến nguồn mạch của niềm vui, đến chính t́nh yêu – nghĩa là đến Thiên Chúa.

15. Trong khi viễn kiến hướng đến cộng đoàn của “cuộc sống đầy ơn phúc” chắc chắn là vượt lên thế giới hiện nay, viễn kiến này cũng liên quan đến việc xây đắp thế giới trước mắt – trong những cách thức đa dạng, tùy thuộc vào bối cảnh lịch sử và những khả năng được trao cho hay bị tước mất đi. Trong thời của Thánh Augustinô, những cuộc xâm nhập của các dân tộc mới đe dọa tính chất mạch lạc của thế giới, thành ra cần phải có một sự bảo đảm nào đó về luật pháp và cuộc sống trong một xă hội trật tự pháp quyền; nên vào lúc đó, vấn đề là phải tăng cường các nền tảng căn bản cho sự cộng sinh trong ḥa b́nh, ngơ hầu có thể tồn tại được trong một thế giới đang chuyển biến. Giờ đây, chúng ta hăy xem xét một vài giai đoạn được chọn ngẫu nhiên ở mức nào đó trong thời Trung Cổ, nhằm minh họa một vài khía cạnh về điều chúng ta đang đề cập. Thông thường, người ta cho rằng các ḍng tu là những nơi trốn tránh thế giới (contemptus mundi ) và những nơi trốn chạy trách nhiệm với thế giới, nhằm t́m cho ḿnh ơn giải thoát cá vị. Thánh Bernard thành Clairvaux, người đă linh hướng đông đảo những thanh niên bước vào những tu viện thuộc ḍng cải cách của ngài, có một cái nh́n khác xa về điều này. Theo quan điểm của ngài, các tu sĩ thực thi một công việc cho toàn thể Giáo Hội và do đó, cho toàn thế giới. Ngài đă dùng nhiều h́nh ảnh để minh họa cho bổn phận mà các tu sĩ phải gánh vác trước toàn thể Giáo Hội, và đương nhiên là trước nhân loại; ngài áp dụng cho họ những lời của Pseudo-Rufinus: “Nhân loại sống nhờ vào một vài người; nếu không có họ, thế giới sẽ bị hủy diệt…”12. Ngài cho biết các tu sĩ chiêm niệm - contemplantes - phải trở thành những người lao động nông nghiệp - laborantes. Tính chất cao thượng của lao động, mà Kitô Giáo kế thừa từ Do Thái Giáo, đă được thể hiện trong những luật ḍng Augustinô và ḍng Biển Đức. Thánh Bernard đă lấy lại ư tưởng này lần nữa. Những thanh niên cao thượng tuôn đến những tu viện của ngài đă phải tham gia vào những việc lao động chân tay. Thật ra, Thánh Bernard đă minh nhiên khẳng định rằng tu viện không chỉ phục hồi Vườn Địa Đàng, nhưng ngài nhấn mạnh rằng, như một nơi “cầy tung sỏi đá” cách thực tiễn và thiêng liêng, tu viện phải chuẩn bị cho Vườn Địa Đàng mới. Một lô đất hoang trong rừng được khai phá mầu mỡ - và trong tiến tŕnh đó, những cây kiêu ngạo bị đổ xuống, bất cứ nơi nào cỏ lùng đâm rễ trong tâm hồn đều được nhổ sạch, và miếng đất, do đó, được chuẩn bị cho bánh ḿ của thân xác và linh hồn có thể trổ sinh hoa trái. 13 Không lẽ chúng ta không nh́n thấy lần nữa, trong ánh sáng của lịch sử hiện nay, là không có một trật tự thế giới tích cực nào có thể vươn lên nơi những tâm hồn đă quá chai đá?

Sự biến hóa của đức tin-hy vọng Kitô trong thời đại tân tiến

16. V́ đâu mà lại nảy sinh ra cái ư tưởng cho rằng thông điệp của Chúa Giêsu chỉ hạn hẹp trong chiều kích riêng tư và chỉ nhắm vào từng cá nhân đơn lẻ? Làm sao chúng ta lại đi đến diễn dịch coi “ơn cứu độ linh hồn” như là cuộc trốn chạy toàn bộ trách nhiệm, và cớ sự nào lại ra nông nỗi coi dự án Kitô Giáo như một cuộc t́m kiếm ích kỷ ơn cứu độ, trong đó khước từ ư tưởng phục vụ tha nhân. Để t́m ra một câu trả lời, chúng ta phải nh́n vào những nền tảng của thời đại tân tiến. Những nền tảng này hiện rơ đặc biệt trong ư tưởng của Francis Bacon. Không thể phủ nhận rằng một thời kỳ mới đă xuất hiện thông qua việc khám phá ra Châu Mỹ, và những thành tựu kỹ thuật đă làm cho sự phát triển thời kỳ mới này trở nên khả thi. Nhưng cơ sở của thời đại mới này là ǵ? Đó là sự tương quan mới giữa thực nghiệm và phương pháp luận cho phép con người đạt đến một diễn dịch về thiên nhiên dựa theo những định luật của nó và v́ thế cuối cùng đạt được “sự toàn thắng của nghệ thuật trên tự nhiên” (victoria cursus artis super naturam).14 Cái mới - theo cách nh́n của Bacon – nằm nơi mối tương quan giữa khoa học và ứng dụng [bản tiếng Anh: science and praxi - bản tiếng Ư: scienza e prassi – Chú thích của người dịch: Triết gia Aristotle chia các hoạt động con người thành 3 loại căn bản theoria (tư duy lư thuyết), poiesis (sản xuất) và praxis (hành động)]. Điều này cũng dẫn đến một hệ quả thần học: mối tương quan mới giữa khoa học và ứng dụng sẽ có nghĩa là quyền năng thống trị trên tạo vật - được Chúa ban cho nhân loại và bị mất đi v́ tội nguyên tội – sẽ được phục hồi. 15

17. Bất cứ ai đọc và suy tư những khẳng định này một cách kỹ càng đều nhận ra là một bước đáng kinh sợ đă xảy ra: cho đến lúc đó, việc phục hồi lại cái mà con người đă đánh mất khi bị trục xuất khỏi Vườn Địa Đàng vẫn trông cậy nơi đức tin vào Chúa Giêsu Kitô: nơi đặt để “ơn cứu độ”. Nhưng, giờ đây, ơn cứu độ này, việc phục hồi lại “Vườn Địa Đàng” đă mất, không c̣n cần đến đức tin nữa, nhưng sẽ nhờ vào cái liên kết mới được khám phá giữa khoa học và thực tiễn. Không phải đức tin đơn giản là bị từ bỏ; nhưng nó bị đặt sang một lănh vực khác – lănh vực của những chuyện thuần tuư riêng tư và thuộc về một thế giới khác – và đồng thời đức tin trở nên một điều ǵ đó không ăn chung ǵ với thế giới này. Quan điểm máy móc này đă vạch ra con đường của thời đại mới và cũng h́nh thành nên cuộc khủng hoảng đức tin ngày nay, một cuộc khủng hoảng về cơ bản là cuộc khủng hoảng hy vọng Kitô Giáo. V́ thế, theo Bacon, hy vọng cũng khoác lên ḿnh một h́nh thái mới. Giờ đây, nó được gọi là: niềm tin vào tiến bộ. Đối với Bacon, rơ ràng là làn sóng những khám phá và phát minh chỉ mới là khởi đầu; thông qua tác động hỗ tương giữa khoa học và ứng dụng, những khám phá hoàn toàn mới mẻ sẽ diễn ra, một thế giới hoàn toàn mới sẽ xuất hiện, đó là vương quốc loài người. 16 Bacon c̣n đưa ra một viễn kiến với những phát minh có thể thấy trước được – bao gồm máy bay và tầu ngầm. Khi ư thức hệ về tiến bộ tiến xa hơn nữa, niềm hân hoan phấn khích trước những bước tiến nh́n thấy được của tiềm năng nhân loại sẽ tiếp tục tăng cường một niềm tin vào tiến bộ như thế.

18. Đồng thời, có hai phạm trù ngày càng trở nên trung tâm của lư thuyết tiến bộ: đó là lư trí và tự do. Tiến bộ được gắn chủ yếu với sự thống trị ngày càng mạnh của lư trí, và lư trí này hiển nhiên được xem là một lực thiện và một lực cho điều thiện. Tiến bộ là vượt lên mọi h́nh thái của lệ thuộc – đó là một tiến tŕnh hướng đến tự do hoàn toàn. Cũng thế, tự do được xem thuần tuư như một lời hứa, trong đó con người trở nên càng ngày càng hoàn toàn là chính ḿnh. Trong cả hai khái niệm đó – tự do và lư trí – có một khía cạnh chính trị. Thực ra, vương quốc của lư trí được trông đợi như một t́nh trạng mới của nhân loại một khi nó đạt được tự do hoàn toàn. Tuy vậy, những điều kiện chính trị của một vương quốc lư trí và tự do như thế thoạt nh́n đă thấy ngay là một điều ǵ đó được định nghĩa bệnh hoạn. Lư trí và tự do dường như có thể tự ḿnh bảo đảm, do bởi bản thiện nội tại của chúng, cho một cộng đồng nhân loại mới và hoàn thiện. Nhưng hai cái khái niệm then chốt là “lư trí” và “tự do” này đă được hiểu ngầm là xung khắc với những trói buộc của đức tin và của Giáo Hội, cũng như của những cơ cấu chính trị đương đại. Thành thử, cả hai khái niệm đó đều chứa đựng một tiềm năng cách mạng của một lực bùng nổ quy mô.

19. Chúng ta cần nh́n qua hai giai đoạn thiết yếu trong việc hiện thực hóa chính trị niềm hy vọng này, v́ chúng có tầm quan trọng to lớn trên sự phát triển của niềm hy vọng Kitô, để rồi chúng ta có thể hiểu đúng về niềm hy vọng đó và về những lư do cho sự dai dẳng của nó. Trước hết, đó là cuộc cách mạng Pháp – một cố gắng để thiết lập luật lư trí và tự do như một thực tại chính trị. Thoạt đầu, châu Âu của thời Khai Sáng nh́n những biến cố này rất hào hứng, nhưng rồi, trong tiến tŕnh của chúng, chúng đă khiến người ta phải suy tư một cách mới mẻ hơn về lư trí và tự do. Một minh họa tốt cho hai giai đoạn trong việc đón nhận những biến cố này tại Pháp được t́m thấy trong hai bài luận văn của Immanuel Kant trong đó ông suy tư về những ǵ đă xảy ra. Năm 1792, ông viết cuốn Der Sieg des guten Prinzips ber das bưse und die Grndung eines Reiches Gottes auf Erden (“Chiến thắng của Sự Thiện trên Nguyên Tắc Tàn Ác và Việc H́nh Thành một Nước Trời trên Trần Gian”). Trong bản văn đó, ông viết như sau: “Việc chuyển dần niềm tin giáo hội sang sự thống trị độc quyền của niềm tin thuần tuư tôn giáo là sự quang lâm của Nước Trời”17. Ông c̣n nói với chúng ta rằng các cuộc cách mạng có thể gia tốc tiến tŕnh chuyển từ niềm tin giáo hội đến niềm tin lư trí. “Nước Trời” được Chúa Giêsu công bố giờ đây được khoác cho một định nghĩa mới và một dạng thức hiện diện mới; một “kỳ vọng tức khắc” mới, có thể nói như thế; và “Nước Trời” ấy đang đến: “Nước Trời” đến khi “niềm tin giáo hội” bị đánh bại và bị đè bẹp bởi “niềm tin tôn giáo”, nghĩa là, bởi một thứ đức tin thuần lư. Năm 1795, trong cuốn Das Ende aller Dinge (“Cáo chung của tất cả mọi thứ’”) một h́nh ảnh khác hẳn đă xuất hiện. Giờ đây, Kant xem xét khả năng là bên cạnh kết thúc tự nhiên của mọi thứ có thể có một thứ khác không tự nhiên, với một kết cục quái lạ. Ông ta viết về điểm này như sau: “Nếu có một ngày nào đó Kitô Giáo ngừng không đáng được ưa chuộng nữa.. th́ lúc đó tâm tư thịnh hành trong nhân loại sẽ là từ chối và chống lại nó; và tên Chống Chúa.. sẽ bắt đầu triều đại - dù chóng qua - của hắn ( được giả định đặt cơ sở trên sợ hăi và ích kỷ); nhưng khi đó, v́ Kitô Giáo dù đă được định là tôn giáo thế giới, trong thực tế lại không được ưa chuộng như đă định, th́ trên phương diện luân lư mà nói, điều này sẽ dẫn đến một sự cáo chung (quái lạ) cho tất cả mọi thứ” 18

20. Thế kỷ 19 gia tăng niềm tin nơi tiến bộ như một h́nh thái hy vọng nhân loại mới, và nó tiếp tục coi lư trí và tự do như những ngôi sao hướng dẫn trên nẻo đường hy vọng. Dẫu sao, sự tiến bộ nhanh chóng của phát triển kỹ thuật và hiện tượng kỹ nghệ hóa gắn liền với nó nhanh chóng đưa tới một t́nh trạng xă hội hoàn toàn mới: xuất hiện một tầng lớp những người thợ công nghiệp và cái gọi là “giai cấp vô sản”, những người mà các điều kiện sống thê thảm của họ đă được Friedrich Engels mô tả một cách đáng báo động vào năm 1845. Với những độc giả của ông ta, câu kết luận là rất rơ: điều này không thể tiếp tục; một sự thay đổi là cần thiết. Tuy nhiên, sự thay đổi này sẽ lật nhào toàn bộ cấu trúc của xă hội tư sản. Sau cuộc cách mạng tư sản năm 1789, giờ đă điểm cho một cuộc cách mạng mới, cách mạng vô sản: tiến bộ không thể tiếp tục với những bước nhỏ và tiệm tiến. Một sự nhảy vọt có tính chất cách mạng là điều cần thiết. Karl Marx đón lấy khát vọng của quần chúng, và áp dụng thứ ngôn ngữ kích động và khôn ngoan vào trong công tác phát động một bước tiến mới mẻ to lớn và, như ông ta nghĩ, là bước quyết định trong lịch sử hướng về ơn cứu độ - hướng về điều mà Kant mô tả là “Nước Trời”. Một khi chân lư về tương lai bị phủ nhận, th́ vấn đề đặt ra là thiết lập chân lư ngay đây và ngay bây giờ. Phê phán về Thiên Đàng được chuyển thành phê phán về trần thế, chỉ trích thần học giờ đây trở thành chỉ trích chính trị. Tiến bộ hướng về điều tốt hơn, về một thế giới thực sự là tốt, không c̣n đến từ khoa học nữa nhưng từ chính trị - từ một thứ chính trị mang mầu sắc khoa học trong đó xem xét cấu trúc của lịch sử và xă hội và từ đó chỉ ra con đường hướng đến cách mạng, hướng đến một sự thay đổi tổng thể. Marx đă mô tả khá chính xác t́nh trạng trong thời ông ta, dầu với sự lệch lạc một chiều nhất định, và với kỹ năng phân tích sắc xảo, ông ta đă nêu ra những con đường dẫn đến cách mạng – và không chỉ lư thuyết mà thôi: qua phương tiện cụ thể là Đảng Cộng Sản xuất hiện từ trong Cương Lĩnh Cộng Sản 1848, ông ta đă khởi động cuộc cách mạng này. Lời hứa hẹn, cộng thêm với sự sắc xảo trong phân tích của ông cũng như chỉ dẫn tường tận về phương tiện tạo ra thay đổi cấp tiến này, đă và tiếp tục là một nguồn phấn khích bất tận. Cách mạng thực sự đă nổ ra trong cách thế cấp tiến nhất tại Nga.

21. Dù thế, cùng với thắng lợi của cách mạng, sai lầm căn bản của Marx cũng bộc lộ hiển nhiên. Ông ta chỉ ra chính xác cách thức lật đổ trật tự hiện nay, nhưng ông ta không nói cách thế tiến hành sau đó. Ông ta đơn giản giả định rằng với sự tước đoạt tài sản của giai cấp cầm quyền, với sự sụp đổ quyền lực chính trị và xă hội hoá các phương tiện sản xuất, một thành Giêrusalem mới sẽ thành hiện thực. Khi đó, cố nhiên, mọi mâu thuẫn sẽ được giải quyết, con người và thế giới cuối cùng tự ḿnh cũng t́m ra được giải pháp. Khi đó mọi thứ sẽ tự thân vận động theo đúng đường, v́ mọi thứ sẽ thuộc về mọi người và ai cũng mong điều tốt nhất cho nhau. Thành ra, sau khi hoàn thành cuộc cách mạng, Lênin mới nhận thức ra là những tác phẩm của ông thầy chẳng hề chỉ ra bước kế tiếp là phải làm sao. Đúng thật là Marx có đề cập đến thời kỳ chuyên chế vô sản quá độ như một điều cần thiết mà đến ngày đến giờ th́ nó sẽ tự động không c̣n cần thiết nữa. Tất cả chúng ta đều biết quá rơ cái “thời kỳ quá độ” này, và chúng ta cũng biết là nó đă được phát triển sau đó ra sao, không thúc đẩy một thế giới hoàn thiện hơn, nhưng bỏ lại đàng sau một loạt những hủy diệt kinh hoàng. Marx quên không chỉ ra cách thức làm sao tổ chức thế giới mới này - điều mà, dĩ nhiên, được cho là không cần thiết. Sự yên lặng của ông ta về vấn đề này diễn ra cách hợp lư từ lựa chọn của ông ta. Sai lầm của ông càng sâu nặng hơn nữa. Ông ta quên rằng con người luôn là con người. Ông ta quên con người và quên luôn tự do của con người. Ông ta quên rằng tự do luôn vẫn c̣n là tự do làm điều ác. Ông ta nghĩ rằng khi nền kinh tế đă được điều chỉnh đúng, mọi sự sẽ tự nhiên ổn thoả hết. Sai lầm thật sự của ông ta là chủ nghĩa duy vật: con người thực ra không phải chỉ là thành quả của các điều kiện kinh tế, và không thể giải thoát con người chỉ từ bên ngoài bằng cách tạo ra một môi trường kinh tế thuận lợi.

22. Chúng ta lại thấy ḿnh đối diện với câu hỏi: như vậy liệu chúng ta có thể hy vọng điều ǵ? Một thái độ tư phê b́nh của thuyết hiện đại là cần thiết trong cuộc đối thoại với Kitô Giáo và với niềm hy vọng Kitô. Trong cuộc đối thoại này, cả người Kitô hữu, trong bối cảnh kiến thức và kinh nghiệm của ḿnh, cũng phải canh tân nhận thức là niềm hy vọng của ḿnh thực sự chứa đựng điều ǵ, họ phải đem lại những ǵ cho thế giới và những ǵ họ không thể đem lại. Ḥa với thái độ tự phê này của thời hiện đại cũng phải có một thái độ tự phê của Kitô Giáo hiện đại, trong đó chúng ta phải thường xuyên canh tân nhận thức về chính ḿnh khởi đi từ cội rễ. Về đề tài này, tất cả những ǵ chúng ta có thể cố gắng ở đây là một vài quan sát ngắn gọn. Đầu tiên chúng ta phải tự hỏi: “tiến bộ” thực ra có nghĩa là ǵ; nó hứa hẹn những ǵ và nó không hứa hẹn những ǵ? Trong thế kỷ 19, niềm tin vào tiến bộ đă là đối tượng bị phê phán. Trong thế kỷ 20, Theodor W. Adorno đă đúc kết vấn đề niềm tin vào tiến bộ một cách kiệt xuất: ông nói rằng tiến bộ, nh́n cho chính xác, là tiến bộ từ cái ná tới bom nguyên tử. Đây là một khía cạnh của tiến bộ mà không được phép che đậy. Nói khác đi: tính chất mơ hồ của của tiến bộ đă trở nên hiển nhiên. Không nghi ngờ ǵ, nó đem đến nhiều triển vọng cho điều tốt, nhưng nó cũng mở ra những triển vọng đáng kinh sợ cho sự dữ - những triển vọng mà trước đó không hề tồn tại. Chúng ta tất cả đă chứng kiến cách thế trong đó tiến bộ, trong bàn tay sai trái, có thể trở thành và thực sự đă trở thành một tiến bộ kinh hoàng trong sự ác. Nếu tiến bộ kỹ thuật không đi kèm với tiến bộ tương ứng trong việc h́nh thành luân lư con người, trong sự tăng trưởng nội tâm (x Eph 3:16; 2 Cor 4:16), th́ nó chẳng là tiến bộ ǵ cả, nhưng là một mối đe dọa cho con người và cho thế giới.

23. Đối với hai chủ đề lớn là “lư trí” và “tự do”, ở đây chúng ta chỉ có thể đề cập đến những vấn nạn gắn liền với chúng. Thật ra, lư trí là hồng ân Thiên Chúa ban cho con người, và sự chiến thắng của lư trí trên những điều không hợp lư cũng là một mục tiêu của đời sống Kitô. Nhưng khi nào th́ lư trí thực sự vinh thắng? Khi nó được tách ra khỏi Thiên Chúa chăng? Khi nó trở nên mù ḷa trước Thiên Chúa chăng? Có phải lư trí đằng sau hành động và khả năng hành động là toàn bộ lư trí? Nếu tiến bộ, để thực sự là tiến bộ, cần đến sự tăng trưởng luân lư về phía nhân loại, th́ lư trí đằng sau hành động và khả năng hành động cũng cấp thiết cần đến một sự hội nhập với khả năng phân biệt được thiện ác thông qua sự cởi mở của lư trí với những lực giải thoát của đức tin. Chỉ có như thế lư trí mới trở nên thực sự nhân bản. Nó chỉ trở nên nhân bản khi nó có thể hướng dẫn ư chí theo nẻo chính, và nó chỉ có thể làm được điều đó nếu nó nh́n xa hơn chính ḿnh. Nếu không, t́nh trạng con người, trong bối cảnh của sự mất quân b́nh giữa khả năng vật chất và t́nh trạng mất đi sự phán đoán nơi con tim, sẽ trở nên một mối họa cho con người và cho tạo vật. Thành ra, nơi đâu tự do được đề cập đến, ở đó chúng ta phải nhớ rằng tự do con người luôn đ̣i hỏi một sự hội tụ các h́nh thái tự do khác nhau. Nhưng sự hội tụ này không thể thành công trừ phi nó được khẳng định bởi một tiêu chuẩn đo lường nội tại chung, là căn bản và mục tiêu của tự do chúng ta. Chúng ta hăy tóm lại đơn giản như thế này: con người cần đến Thiên Chúa, nếu không c̣n người vẫn là vô vọng. Trước những phát triển của thời đại tân tiến, câu trích dẫn từ Thánh Phaolô mà tôi đă dùng để khởi đầu (Eph 2:12), được chứng minh thật là thực tế và quá đúng. Do đó, không nghi ngờ ǵ, một “Nước Trời” đạt được mà không có Thiên Chúa –một vương quốc loài người mà thôi- sẽ không tránh khỏi cáo chung như “một kết thúc quái lạ” của mọi sự như đă được mô tả bởi Kant: chúng ta đă từng thấy, và chúng ta thấy đi thấy lại điều đó.

Xem tiếp