|
Niềm hy vọng Kitô Giáo có
phải là một niềm hy vọng cá
nhân?
13. Theo ḍng lịch sử, các
Kitô hữu đă cố gắng diễn tả
điều “biết là không biết”
này qua phương tiện những
h́nh ảnh thể hiện ra được,
và họ đă phát triển h́nh ảnh
về “Thiên Đàng” c̣n rất xa
với điều mà, nói cho cùng,
chỉ có thể biết đến một cách
rất tiêu cực, v́ không biết.
Tất cả những cố gắng diễn tả
hy vọng này đă đem đến cho
nhiều người, qua các thế kỷ,
một linh hứng để sống theo
đức tin và do đó từ bỏ
hyparchonta – cơ sở vật chất
cho cuộc sống của họ. Tác
giả của Thư Do Thái,
trong chương thứ Mười Một,
đă tổng kết một h́nh thức
lịch sử về những ai sống
trong hy vọng, và về cuộc
hành tŕnh của họ, một lịch
sử kéo dài từ thời Abel cho
tới thời của tác giả. H́nh
thái hy vọng này đă là đối
tượng cho một thứ chỉ trích
ngày càng gay gắt trong thời
buổi hiện nay: nó bị coi là
một niềm hy vọng duy cá
nhân, một cách thế chối bỏ
thế giới với những đau khổ
của nó và t́m nương náu nơi
một h́nh thái giải thoát
vĩnh cửu có tính cách riêng
tư. Henri de Lubac, trong
lời phi lộ của cuốn sách có
thế giá Catholicisme.
Aspects sociaux du dogme
(Giáo lư Công Giáo – Những
khía cạnh xă hội của tín lư)
đă tổng hợp một số những
phát biểu đặc trưng của quan
điểm này, một trong số đó
đáng để trích ra nơi đây:
“Tôi đă t́m thấy niềm vui
chăng? Không …chỉ là niềm
vui của tôi, và đó là
điều thật khác biệt.. Niềm
vui của Chúa Giêsu có thể là
riêng tư. Nó chỉ thuộc về
một con người đơn độc và
Ngài được giải thoát. Ngài
được an b́nh.. bây giờ và
măi măi, nhưng Ngài cô đơn.
Tính chất cô lập của niềm
vui này không làm Ngài khó
chịu. Trái lại, v́ Ngài là
người được chọn! Trong ơn
phúc của Ngài, Ngài bước qua
những băi chiến trường với
một bông hồng trên tay”10
14.
Chống lại quan điểm này, khi
trưng ra hàng loạt những
luận điểm thần học của các
Giáo Phụ, de Lubac đă có thể
chứng minh rằng ơn cứu độ
luôn được xem là một thực
tại “xă hội”. Thật vậy,
Thư Do Thái đề cập đến
một “thành phố” (x 11:10,
16; 12:22; 13:14) và do đó
về ơn cứu độ tập thể. Nhất
quán với quan điểm này, các
Giáo Phụ luôn coi tội lỗi là
sự huỷ hoại sự hiệp nhất của
nhân loại, là sự đổ vỡ và
chia rẽ. Tháp Babel, nơi các
ngôn ngữ rối loạn, nơi của
phân ly, được coi như một
biểu tượng cho thấy tội lỗi
về căn bản nghĩa là ǵ. Do
đó, “ơn cứu chuộc” xuất hiện
như sự phục hồi t́nh hiệp
nhất, trong đó chúng ta lại
cùng đến với nhau trong sự
hiệp thông được bắt đầu h́nh
thành nơi cộng đoàn các tín
hữu. Chúng ta không cần quan
tâm đến tất cả mọi văn bản
trong đó nói lên tính chất
xă hội của niềm hy vọng Kitô
Giáo. Ở đây, chúng ta hăy
chú tâm đến Thư gởi cho
Proba trong đó Thánh
Augustinô cố gắng minh họa ở
một mức độ nào đó điều “biết
là không biết” mà chúng ta
đang t́m kiếm. Khởi điểm của
ngài đơn giản là thành ngữ
“cuộc sống đầy ơn phúc”. Sau
đó, ngài trích dẫn Thánh
Vịnh 144 [143]:15 “Hạnh
phúc thay dân nào được Thiên
Chúa là Chúa”. Và ngài tiếp
tục: “Để có thể được kể
trong hàng dân tộc này và
đạt được …sự sống đời đời
với Thiên Chúa, ‘Lệnh truyền
đó tối hậu phải đưa tới đức
mến phát xuất từ tâm hồn
trong sạch, lương tâm ngay
thẳng và đức tin không giả
h́nh’ (1 Tm 1:5)
11. Sự sống thật mà
chúng ta hằng vươn tới được
liên kết với một sự hiệp
thông sống động với một “dân
tộc”, và với mỗi cá nhân, sự
sống ấy chỉ có thể đạt được
trong cái “chúng tôi” này.
Điều này giả định rằng chúng
ta phải thoát ra được tù
ngục là “cái tôi” của ḿnh,
v́ chỉ trong sự cởi mở của
chủ thể vũ trụ này, chúng ta
mới có thể hướng nh́n đến
nguồn mạch của niềm vui, đến
chính t́nh yêu – nghĩa là
đến Thiên Chúa.
15. Trong khi viễn kiến
hướng đến cộng đoàn của
“cuộc sống đầy ơn phúc” chắc
chắn là vượt lên thế giới
hiện nay, viễn kiến này cũng
liên quan đến việc xây đắp
thế giới trước mắt – trong
những cách thức đa dạng, tùy
thuộc vào bối cảnh lịch sử
và những khả năng được trao
cho hay bị tước mất đi.
Trong thời của Thánh
Augustinô, những cuộc xâm
nhập của các dân tộc mới đe
dọa tính chất mạch lạc của
thế giới, thành ra cần phải
có một sự bảo đảm nào đó về
luật pháp và cuộc sống trong
một xă hội trật tự pháp
quyền; nên vào lúc đó, vấn
đề là phải tăng cường các
nền tảng căn bản cho sự cộng
sinh trong ḥa b́nh, ngơ hầu
có thể tồn tại được trong
một thế giới đang chuyển
biến. Giờ đây, chúng ta hăy
xem xét một vài giai đoạn
được chọn ngẫu nhiên ở mức
nào đó trong thời Trung Cổ,
nhằm minh họa một vài khía
cạnh về điều chúng ta đang
đề cập. Thông thường, người
ta cho rằng các ḍng tu là
những nơi trốn tránh thế
giới (contemptus mundi
) và những nơi trốn chạy
trách nhiệm với thế giới,
nhằm t́m cho ḿnh ơn giải
thoát cá vị. Thánh Bernard
thành Clairvaux, người đă
linh hướng đông đảo những
thanh niên bước vào những tu
viện thuộc ḍng cải cách của
ngài, có một cái nh́n khác
xa về điều này. Theo quan
điểm của ngài, các tu sĩ
thực thi một công việc cho
toàn thể Giáo Hội và do đó,
cho toàn thế giới. Ngài đă
dùng nhiều h́nh ảnh để minh
họa cho bổn phận mà các tu
sĩ phải gánh vác trước toàn
thể Giáo Hội, và đương nhiên
là trước nhân loại; ngài áp
dụng cho họ những lời của
Pseudo-Rufinus: “Nhân loại
sống nhờ vào một vài người;
nếu không có họ, thế giới sẽ
bị hủy diệt…”12.
Ngài cho biết các tu sĩ
chiêm niệm -
contemplantes - phải trở
thành những người lao động
nông nghiệp - laborantes.
Tính chất cao thượng của lao
động, mà Kitô Giáo kế thừa
từ Do Thái Giáo, đă được thể
hiện trong những luật ḍng
Augustinô và ḍng Biển Đức.
Thánh Bernard đă lấy lại ư
tưởng này lần nữa. Những
thanh niên cao thượng tuôn
đến những tu viện của ngài
đă phải tham gia vào những
việc lao động chân tay. Thật
ra, Thánh Bernard đă minh
nhiên khẳng định rằng tu
viện không chỉ phục hồi Vườn
Địa Đàng, nhưng ngài nhấn
mạnh rằng, như một nơi “cầy
tung sỏi đá” cách thực tiễn
và thiêng liêng, tu viện
phải chuẩn bị cho Vườn Địa
Đàng mới. Một lô đất hoang
trong rừng được khai phá mầu
mỡ - và trong tiến tŕnh đó,
những cây kiêu ngạo bị đổ
xuống, bất cứ nơi nào cỏ
lùng đâm rễ trong tâm hồn
đều được nhổ sạch, và miếng
đất, do đó, được chuẩn bị
cho bánh ḿ của thân xác và
linh hồn có thể trổ sinh hoa
trái. 13 Không lẽ
chúng ta không nh́n thấy lần
nữa, trong ánh sáng của lịch
sử hiện nay, là không có một
trật tự thế giới tích cực
nào có thể vươn lên nơi
những tâm hồn đă quá chai
đá?
Sự biến hóa của đức tin-hy
vọng Kitô trong thời đại tân
tiến
16. V́ đâu mà lại nảy sinh
ra cái ư tưởng cho rằng
thông điệp của Chúa Giêsu
chỉ hạn hẹp trong chiều kích
riêng tư và chỉ nhắm vào
từng cá nhân đơn lẻ? Làm sao
chúng ta lại đi đến diễn
dịch coi “ơn cứu độ linh
hồn” như là cuộc trốn chạy
toàn bộ trách nhiệm, và cớ
sự nào lại ra nông nỗi coi
dự án Kitô Giáo như một cuộc
t́m kiếm ích kỷ ơn cứu độ,
trong đó khước từ ư tưởng
phục vụ tha nhân. Để t́m ra
một câu trả lời, chúng ta
phải nh́n vào những nền tảng
của thời đại tân tiến. Những
nền tảng này hiện rơ đặc
biệt trong ư tưởng của
Francis Bacon. Không thể phủ
nhận rằng một thời kỳ mới đă
xuất hiện thông qua việc
khám phá ra Châu Mỹ, và
những thành tựu kỹ thuật đă
làm cho sự phát triển thời
kỳ mới này trở nên khả thi.
Nhưng cơ sở của thời đại mới
này là ǵ? Đó là sự tương
quan mới giữa thực nghiệm và
phương pháp luận cho phép
con người đạt đến một diễn
dịch về thiên nhiên dựa theo
những định luật của nó và v́
thế cuối cùng đạt được “sự
toàn thắng của nghệ thuật
trên tự nhiên” (victoria
cursus artis super naturam).14
Cái mới - theo cách nh́n của
Bacon – nằm nơi mối tương
quan giữa khoa học và ứng
dụng [bản tiếng Anh: science
and praxi - bản tiếng Ư:
scienza e prassi – Chú thích
của người dịch: Triết gia
Aristotle chia các hoạt động
con người thành 3 loại căn
bản theoria (tư duy lư
thuyết), poiesis (sản xuất)
và praxis (hành động)]. Điều
này cũng dẫn đến một hệ quả
thần học: mối tương quan mới
giữa khoa học và ứng dụng sẽ
có nghĩa là quyền năng thống
trị trên tạo vật - được Chúa
ban cho nhân loại và bị mất
đi v́ tội nguyên tội – sẽ
được phục hồi. 15
17.
Bất cứ ai đọc và suy tư
những khẳng định này một
cách kỹ càng đều nhận ra là
một bước đáng kinh sợ đă xảy
ra: cho đến lúc đó, việc
phục hồi lại cái mà con
người đă đánh mất khi bị
trục xuất khỏi Vườn Địa Đàng
vẫn trông cậy nơi đức tin
vào Chúa Giêsu Kitô: nơi đặt
để “ơn cứu độ”. Nhưng, giờ
đây, ơn cứu độ này, việc
phục hồi lại “Vườn Địa Đàng”
đă mất, không c̣n cần đến
đức tin nữa, nhưng sẽ nhờ
vào cái liên kết mới được
khám phá giữa khoa học và
thực tiễn. Không phải đức
tin đơn giản là bị từ bỏ;
nhưng nó bị đặt sang một
lănh vực khác – lănh vực của
những chuyện thuần tuư riêng
tư và thuộc về một thế giới
khác – và đồng thời đức tin
trở nên một điều ǵ đó không
ăn chung ǵ với thế giới
này. Quan điểm máy móc này
đă vạch ra con đường của
thời đại mới và cũng h́nh
thành nên cuộc khủng hoảng
đức tin ngày nay, một cuộc
khủng hoảng về cơ bản là
cuộc khủng hoảng hy vọng
Kitô Giáo. V́ thế, theo
Bacon, hy vọng cũng khoác
lên ḿnh một h́nh thái mới.
Giờ đây, nó được gọi là:
niềm tin vào tiến bộ.
Đối với Bacon, rơ ràng là
làn sóng những khám phá và
phát minh chỉ mới là khởi
đầu; thông qua tác động hỗ
tương giữa khoa học và ứng
dụng, những khám phá hoàn
toàn mới mẻ sẽ diễn ra, một
thế giới hoàn toàn mới sẽ
xuất hiện, đó là vương quốc
loài người. 16
Bacon c̣n đưa ra một viễn
kiến với những phát minh có
thể thấy trước được – bao
gồm máy bay và tầu ngầm. Khi
ư thức hệ về tiến bộ tiến xa
hơn nữa, niềm hân hoan phấn
khích trước những bước tiến
nh́n thấy được của tiềm năng
nhân loại sẽ tiếp tục tăng
cường một niềm tin vào
tiến bộ như thế.
18.
Đồng thời, có hai phạm trù
ngày càng trở nên trung tâm
của lư thuyết tiến bộ: đó là
lư trí và tự do. Tiến bộ
được gắn chủ yếu với sự
thống trị ngày càng mạnh của
lư trí, và lư trí này hiển
nhiên được xem là một lực
thiện và một lực cho điều
thiện. Tiến bộ là vượt lên
mọi h́nh thái của lệ thuộc –
đó là một tiến tŕnh hướng
đến tự do hoàn toàn. Cũng
thế, tự do được xem thuần
tuư như một lời hứa, trong
đó con người trở nên càng
ngày càng hoàn toàn là chính
ḿnh. Trong cả hai khái niệm
đó – tự do và lư trí – có
một khía cạnh chính trị.
Thực ra, vương quốc của lư
trí được trông đợi như một
t́nh trạng mới của nhân loại
một khi nó đạt được tự do
hoàn toàn. Tuy vậy, những
điều kiện chính trị của một
vương quốc lư trí và tự do
như thế thoạt nh́n đă thấy
ngay là một điều ǵ đó được
định nghĩa bệnh hoạn. Lư trí
và tự do dường như có thể tự
ḿnh bảo đảm, do bởi bản
thiện nội tại của chúng, cho
một cộng đồng nhân loại mới
và hoàn thiện. Nhưng hai cái
khái niệm then chốt là “lư
trí” và “tự do” này đă được
hiểu ngầm là xung khắc với
những trói buộc của đức tin
và của Giáo Hội, cũng như
của những cơ cấu chính trị
đương đại. Thành thử, cả hai
khái niệm đó đều chứa đựng
một tiềm năng cách mạng của
một lực bùng nổ quy mô.
19. Chúng ta cần nh́n qua
hai giai đoạn thiết yếu
trong việc hiện thực hóa
chính trị niềm hy vọng này,
v́ chúng có tầm quan trọng
to lớn trên sự phát triển
của niềm hy vọng Kitô, để
rồi chúng ta có thể hiểu
đúng về niềm hy vọng đó và
về những lư do cho sự dai
dẳng của nó. Trước hết, đó
là cuộc cách mạng Pháp – một
cố gắng để thiết lập luật lư
trí và tự do như một thực
tại chính trị. Thoạt đầu,
châu Âu của thời Khai Sáng
nh́n những biến cố này rất
hào hứng, nhưng rồi, trong
tiến tŕnh của chúng, chúng
đă khiến người ta phải suy
tư một cách mới mẻ hơn về lư
trí và tự do. Một minh họa
tốt cho hai giai đoạn trong
việc đón nhận những biến cố
này tại Pháp được t́m thấy
trong hai bài luận văn của
Immanuel Kant trong đó ông
suy tư về những ǵ đă xảy
ra. Năm 1792, ông viết cuốn
Der Sieg des guten
Prinzips ber das bưse und
die Grndung eines Reiches
Gottes auf Erden (“Chiến
thắng của Sự Thiện trên
Nguyên Tắc Tàn Ác và Việc
H́nh Thành một Nước Trời
trên Trần Gian”). Trong bản
văn đó, ông viết như sau:
“Việc chuyển dần niềm tin
giáo hội sang sự thống trị
độc quyền của niềm tin thuần
tuư tôn giáo là sự quang lâm
của Nước Trời”17.
Ông c̣n nói với chúng ta
rằng các cuộc cách mạng có
thể gia tốc tiến tŕnh
chuyển từ niềm tin giáo hội
đến niềm tin lư trí. “Nước
Trời” được Chúa Giêsu công
bố giờ đây được khoác cho
một định nghĩa mới và một
dạng thức hiện diện mới; một
“kỳ vọng tức khắc” mới, có
thể nói như thế; và “Nước
Trời” ấy đang đến: “Nước
Trời” đến khi “niềm tin giáo
hội” bị đánh bại và bị đè
bẹp bởi “niềm tin tôn giáo”,
nghĩa là, bởi một thứ đức
tin thuần lư. Năm 1795,
trong cuốn Das Ende aller
Dinge (“Cáo chung của
tất cả mọi thứ’”) một h́nh
ảnh khác hẳn đă xuất hiện.
Giờ đây, Kant xem xét khả
năng là bên cạnh kết thúc tự
nhiên của mọi thứ có thể có
một thứ khác không tự nhiên,
với một kết cục quái lạ. Ông
ta viết về điểm này như sau:
“Nếu có một ngày nào đó Kitô
Giáo ngừng không đáng được
ưa chuộng nữa.. th́ lúc đó
tâm tư thịnh hành trong nhân
loại sẽ là từ chối và chống
lại nó; và tên Chống Chúa..
sẽ bắt đầu triều đại - dù
chóng qua - của hắn ( được
giả định đặt cơ sở trên sợ
hăi và ích kỷ); nhưng khi
đó, v́ Kitô Giáo dù đă được
định là tôn giáo thế giới,
trong thực tế lại không được
ưa chuộng như đă định, th́
trên phương diện luân lư mà
nói, điều này sẽ dẫn đến một
sự cáo chung (quái lạ) cho
tất cả mọi thứ” 18
20. Thế kỷ 19 gia tăng niềm
tin nơi tiến bộ như một h́nh
thái hy vọng nhân loại mới,
và nó tiếp tục coi lư trí và
tự do như những ngôi sao
hướng dẫn trên nẻo đường hy
vọng. Dẫu sao, sự tiến bộ
nhanh chóng của phát triển
kỹ thuật và hiện tượng kỹ
nghệ hóa gắn liền với nó
nhanh chóng đưa tới một t́nh
trạng xă hội hoàn toàn mới:
xuất hiện một tầng lớp những
người thợ công nghiệp và cái
gọi là “giai cấp vô sản”,
những người mà các điều kiện
sống thê thảm của họ đă được
Friedrich Engels mô tả một
cách đáng báo động vào năm
1845. Với những độc giả của
ông ta, câu kết luận là rất
rơ: điều này không thể tiếp
tục; một sự thay đổi là cần
thiết. Tuy nhiên, sự thay
đổi này sẽ lật nhào toàn bộ
cấu trúc của xă hội tư sản.
Sau cuộc cách mạng tư sản
năm 1789, giờ đă điểm cho
một cuộc cách mạng mới, cách
mạng vô sản: tiến bộ không
thể tiếp tục với những bước
nhỏ và tiệm tiến. Một sự
nhảy vọt có tính chất cách
mạng là điều cần thiết. Karl
Marx đón lấy khát vọng của
quần chúng, và áp dụng thứ
ngôn ngữ kích động và khôn
ngoan vào trong công tác
phát động một bước tiến mới
mẻ to lớn và, như ông ta
nghĩ, là bước quyết định
trong lịch sử hướng về ơn
cứu độ - hướng về điều mà
Kant mô tả là “Nước Trời”.
Một khi chân lư về tương lai
bị phủ nhận, th́ vấn đề đặt
ra là thiết lập chân lư ngay
đây và ngay bây giờ. Phê
phán về Thiên Đàng được
chuyển thành phê phán về
trần thế, chỉ trích thần học
giờ đây trở thành chỉ trích
chính trị. Tiến bộ hướng về
điều tốt hơn, về một thế
giới thực sự là tốt, không
c̣n đến từ khoa học nữa
nhưng từ chính trị - từ một
thứ chính trị mang mầu sắc
khoa học trong đó xem xét
cấu trúc của lịch sử và xă
hội và từ đó chỉ ra con
đường hướng đến cách mạng,
hướng đến một sự thay đổi
tổng thể. Marx đă mô tả khá
chính xác t́nh trạng trong
thời ông ta, dầu với sự lệch
lạc một chiều nhất định, và
với kỹ năng phân tích sắc
xảo, ông ta đă nêu ra những
con đường dẫn đến cách mạng
– và không chỉ lư thuyết mà
thôi: qua phương tiện cụ thể
là Đảng Cộng Sản xuất hiện
từ trong Cương Lĩnh Cộng Sản
1848, ông ta đă khởi động
cuộc cách mạng này. Lời hứa
hẹn, cộng thêm với sự sắc
xảo trong phân tích của ông
cũng như chỉ dẫn tường tận
về phương tiện tạo ra thay
đổi cấp tiến này, đă và tiếp
tục là một nguồn phấn khích
bất tận. Cách mạng thực sự
đă nổ ra trong cách thế cấp
tiến nhất tại Nga.
21.
Dù thế, cùng với thắng lợi
của cách mạng, sai lầm căn
bản của Marx cũng bộc lộ
hiển nhiên. Ông ta chỉ ra
chính xác cách thức lật đổ
trật tự hiện nay, nhưng ông
ta không nói cách thế tiến
hành sau đó. Ông ta đơn giản
giả định rằng với sự tước
đoạt tài sản của giai cấp
cầm quyền, với sự sụp đổ
quyền lực chính trị và xă
hội hoá các phương tiện sản
xuất, một thành Giêrusalem
mới sẽ thành hiện thực. Khi
đó, cố nhiên, mọi mâu thuẫn
sẽ được giải quyết, con
người và thế giới cuối cùng
tự ḿnh cũng t́m ra được
giải pháp. Khi đó mọi thứ sẽ
tự thân vận động theo đúng
đường, v́ mọi thứ sẽ thuộc
về mọi người và ai cũng mong
điều tốt nhất cho nhau.
Thành ra, sau khi hoàn thành
cuộc cách mạng, Lênin mới
nhận thức ra là những tác
phẩm của ông thầy chẳng hề
chỉ ra bước kế tiếp là phải
làm sao. Đúng thật là Marx
có đề cập đến thời kỳ chuyên
chế vô sản quá độ như một
điều cần thiết mà đến ngày
đến giờ th́ nó sẽ tự động
không c̣n cần thiết nữa. Tất
cả chúng ta đều biết quá rơ
cái “thời kỳ quá độ” này, và
chúng ta cũng biết là nó đă
được phát triển sau đó ra
sao, không thúc đẩy một thế
giới hoàn thiện hơn, nhưng
bỏ lại đàng sau một loạt
những hủy diệt kinh hoàng.
Marx quên không chỉ ra cách
thức làm sao tổ chức thế
giới mới này - điều mà, dĩ
nhiên, được cho là không cần
thiết. Sự yên lặng của ông
ta về vấn đề này diễn ra
cách hợp lư từ lựa chọn của
ông ta. Sai lầm của ông càng
sâu nặng hơn nữa. Ông ta
quên rằng con người luôn là
con người. Ông ta quên con
người và quên luôn tự do của
con người. Ông ta quên rằng
tự do luôn vẫn c̣n là tự do
làm điều ác. Ông ta nghĩ
rằng khi nền kinh tế đă được
điều chỉnh đúng, mọi sự sẽ
tự nhiên ổn thoả hết. Sai
lầm thật sự của ông ta là
chủ nghĩa duy vật: con người
thực ra không phải chỉ là
thành quả của các điều kiện
kinh tế, và không thể giải
thoát con người chỉ từ bên
ngoài bằng cách tạo ra một
môi trường kinh tế thuận
lợi.
22. Chúng ta lại thấy ḿnh
đối diện với câu hỏi: như
vậy liệu chúng ta có thể hy
vọng điều ǵ? Một thái độ tư
phê b́nh của thuyết hiện đại
là cần thiết trong cuộc đối
thoại với Kitô Giáo và với
niềm hy vọng Kitô. Trong
cuộc đối thoại này, cả người
Kitô hữu, trong bối cảnh
kiến thức và kinh nghiệm của
ḿnh, cũng phải canh tân
nhận thức là niềm hy vọng
của ḿnh thực sự chứa đựng
điều ǵ, họ phải đem lại
những ǵ cho thế giới và
những ǵ họ không thể đem
lại. Ḥa với thái độ tự phê
này của thời hiện đại cũng
phải có một thái độ tự phê
của Kitô Giáo hiện đại,
trong đó chúng ta phải
thường xuyên canh tân nhận
thức về chính ḿnh khởi đi
từ cội rễ. Về đề tài này,
tất cả những ǵ chúng ta có
thể cố gắng ở đây là một vài
quan sát ngắn gọn. Đầu tiên
chúng ta phải tự hỏi: “tiến
bộ” thực ra có nghĩa là ǵ;
nó hứa hẹn những ǵ và nó
không hứa hẹn những ǵ?
Trong thế kỷ 19, niềm tin
vào tiến bộ đă là đối tượng
bị phê phán. Trong thế kỷ
20, Theodor W. Adorno đă đúc
kết vấn đề niềm tin vào tiến
bộ một cách kiệt xuất: ông
nói rằng tiến bộ, nh́n cho
chính xác, là tiến bộ từ cái
ná tới bom nguyên tử. Đây là
một khía cạnh của tiến bộ mà
không được phép che đậy. Nói
khác đi: tính chất mơ hồ của
của tiến bộ đă trở nên hiển
nhiên. Không nghi ngờ ǵ, nó
đem đến nhiều triển vọng cho
điều tốt, nhưng nó cũng mở
ra những triển vọng đáng
kinh sợ cho sự dữ - những
triển vọng mà trước đó không
hề tồn tại. Chúng ta tất cả
đă chứng kiến cách thế trong
đó tiến bộ, trong bàn tay
sai trái, có thể trở thành
và thực sự đă trở thành một
tiến bộ kinh hoàng trong sự
ác. Nếu tiến bộ kỹ thuật
không đi kèm với tiến bộ
tương ứng trong việc h́nh
thành luân lư con người,
trong sự tăng trưởng nội tâm
(x Eph 3:16; 2 Cor
4:16), th́ nó chẳng là tiến
bộ ǵ cả, nhưng là một mối
đe dọa cho con người và cho
thế giới.
23. Đối với hai chủ đề lớn
là “lư trí” và “tự do”, ở
đây chúng ta chỉ có thể đề
cập đến những vấn nạn gắn
liền với chúng. Thật ra, lư
trí là hồng ân Thiên Chúa
ban cho con người, và sự
chiến thắng của lư trí trên
những điều không hợp lư cũng
là một mục tiêu của đời sống
Kitô. Nhưng khi nào th́ lư
trí thực sự vinh thắng? Khi
nó được tách ra khỏi Thiên
Chúa chăng? Khi nó trở nên
mù ḷa trước Thiên Chúa
chăng? Có phải lư trí đằng
sau hành động và khả năng
hành động là toàn bộ lư trí?
Nếu tiến bộ, để thực sự là
tiến bộ, cần đến sự tăng
trưởng luân lư về phía nhân
loại, th́ lư trí đằng sau
hành động và khả năng hành
động cũng cấp thiết cần đến
một sự hội nhập với khả năng
phân biệt được thiện ác
thông qua sự cởi mở của lư
trí với những lực giải thoát
của đức tin. Chỉ có như thế
lư trí mới trở nên thực sự
nhân bản. Nó chỉ trở nên
nhân bản khi nó có thể hướng
dẫn ư chí theo nẻo chính, và
nó chỉ có thể làm được điều
đó nếu nó nh́n xa hơn chính
ḿnh. Nếu không, t́nh trạng
con người, trong bối cảnh
của sự mất quân b́nh giữa
khả năng vật chất và t́nh
trạng mất đi sự phán đoán
nơi con tim, sẽ trở nên một
mối họa cho con người và cho
tạo vật. Thành ra, nơi đâu
tự do được đề cập đến, ở đó
chúng ta phải nhớ rằng tự do
con người luôn đ̣i hỏi một
sự hội tụ các h́nh thái tự
do khác nhau. Nhưng sự hội
tụ này không thể thành công
trừ phi nó được khẳng định
bởi một tiêu chuẩn đo lường
nội tại chung, là căn bản và
mục tiêu của tự do chúng ta.
Chúng ta hăy tóm lại đơn
giản như thế này: con người
cần đến Thiên Chúa, nếu
không c̣n người vẫn là vô
vọng. Trước những phát triển
của thời đại tân tiến, câu
trích dẫn từ Thánh Phaolô mà
tôi đă dùng để khởi đầu (Eph
2:12), được chứng minh thật
là thực tế và quá đúng. Do
đó, không nghi ngờ ǵ, một
“Nước Trời” đạt được mà
không có Thiên Chúa –một
vương quốc loài người mà
thôi- sẽ không tránh khỏi
cáo chung như “một kết thúc
quái lạ” của mọi sự như đă
được mô tả bởi Kant: chúng
ta đă từng thấy, và chúng ta
thấy đi thấy lại điều đó. |